|
Có một
chuyện kể ông mục sư nọ khi giảng cho các thanh niên chưa tin
Chúa trong một Trại Hè, ông nói, “Tất cả mọi vật chung quanh
chúng ta không phải tự nhiên mà có. Một Thượng Đế vĩ đại đã
làm việc đó. Trong vòng 6 tháng Ngài đã sáng tạo nên
trời đất và muôn vật!”. Nghe vậy, một phụ tá nói nhỏ vào tai
ông, “Thưa Mục sư, chỉ có 6 ngày thôi ạ!”. Mục sư điềm nhiên
trả lời, “Tôi cũng biết vậy, nhưng nói sáu ngày - dù là sự
thật - họ không tin, nên tôi tăng lên sáu tháng cho có vẻ...
dễ tin hơn.”(trích ‘Chắp Cánh Bay Cao’, tr.292). Tất nhiên câu
chuyện chỉ là vui nhằm minh họa cho cái tật di căn của con
người vốn dĩ hay đa nghi, dù là sự thật vẫn...cứ nghi.
Từ ngàn
xưa con người vốn hay để lòng nghi ngờ; nếu ta đọc chuyện Ê-va
ăn trái cấm trong Sáng-thế-ký chỉ vì hoài nghi lời khuyên của
Chúa mà hậu quả di hại cho đến ngàn đời con cháu mai sau. Ngày
nay cũng vậy, nghi ngờ hay chưa tin một điều gì trở thành một
thói quen, một thái độ, một cảm xúc mà mỗi người chúng ta tùy
lúc, tủy sự việc nhiều khi cũng mắc phải tâm trạng này. Chưa
kể trong cuộc sống phức tạp thường ngày, khi phải đối diện với
những cái giả mà cứ như thật, cái thật lại bị coi là giả thì
cảm giác ngờ vực luôn đeo đuổi ta, nên ‘hoài nghi’ cứ hiểu
theo nghĩa dân gian ‘nghi hoài’ là vậy.
Sự hoài
nghi có khi rơi vào những chuyện vặt đời thường, trong quan hệ
giữa người với người, nhưng xa hơn có thể lại liên hệ đến một
tín giáo, một điều răn, một lời thề, một ân điển, một phép lạ,
một hi vọng cho đời sau...Cảm giác ngờ vực cũng thể hiểu là
trạng thái chưa tin vì còn chờ một sự giải thích tường tận,
một chứng cứ hiển nhiên, một việc làm cụ thể. Ngay những người
được kể là thánh như sứ đồ Thô-ma vẫn chỉ tin là Chúa sống lại
khi chính ông phải sờ được vết đinh đâm vào bàn tay, bàn chân
của Chúa khi Ngài hiện ra trước các môn đồ! Vậy thì tin là
chuyện khó, nghi ngờ là chuyện thường tình, một cảm xúc mỗi
người đều có dịp trải nghiệm, nhất là khi gặp thử thách cám
dỗ, hoàn cảnh đưa đẩy, thời thế đổi thay, chạy theo dư luận.
Quay sang
lãnh vực tâm linh có người hỏi, đức tin là một cảm xúc thuộc
linh, một thái độ xác tín nghiêm túc, nhưng nếu cứ hay nghi
ngờ, hoặc nửa tin nửa ngờ thì có được coi là tự nhiên, là bình
thường nữa không? Thật sự tin hay chưa tin hoặc không tin đều
là cảm xúc tự nhiên của con người, nhưng một khi đã tin rồi
thì phải kiên định, không còn ngả nghiêng, phân tâm dao động.
Chẳng thế mà trong sách Tân ước, sứ đồ Gia-cơ có khuyên những
người theo Chúa, đã tin lời Chúa rồi thì chớ nghi ngờ, “vì kẻ
hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió động và đưa đi đây đi
đó. Người như thế chớ nên tưởng mình lãnh được vật chi từ nơi
Chúa.” (Gia-cơ 1: 6,7). Cho nên khi đề cập đến đức tin, người
ta hay nhắc tới một định nghĩa vừa cụ thể vừa xúc tích của sứ
đồ Phao-lô khi ông minh họa từ vựng này trong sách Hê-bơ-rơ, “Vả,
đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đương
trông mong, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy.”
(Hê-bơ-rơ 11: 1).
Cứ diễn
nghĩa từ lời dạy dỗ này mà nhiều gương đức tin của các tổ phụ
lấy trong Cựu-ước đã là nguồn khích lệ tâm linh cho biết bao
độc giả Kinh thánh thời nay. Bởi đức tin Áp-ra-ham vâng lời
Chúa gọi đi đến xứ ‘người đi mà không biết mình đi đâu’; Nô-ê
được mách bảo ‘cho những việc chưa thấy’ mà vẫn làm; Môi-se
rời bỏ cung điện xứ Ê-díp-tô để cùng dân sự đi vào đồng vắng,
để rồi phần thưởng của họ là quê hương ở trên trời, một thành
mà Ngài đã sắm sẵn, dù phải ‘chết trong đức tin khi chưa nhận
lãnh những điều được hứa’.
Chính
vậy, vì biết được sư yếu đuối của con người, kể cả những môn
đồ đã kề cận Chúa, nên sau lần hiện ra để chìa bàn tay cho
chính Thô-ma sờ vào chỗ dấu đinh, Chúa Giê-su đã phán, “Phước
cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!” (Giăng 20:
29).
Đỗ xuân Thảo
(nhân đọc Hê-bơ-rơ) |