|
MS Ngô
Duy Cường
Có
lần trò chuyện với một chủ thầu xây cất, là một người thanh
niên trẻ, anh chia sẻ với tôi về quan điểm đạo lý của anh: "Đối
với tôi, đạo nào cũng tốt hết, và bất cứ nơi nào tôi cũng muốn
giúp, làm việc cho Chùa hay Nhà Thờ tôi đều giảm giá..." Nghe
anh nói, tôi thấy hâm mộ. Im lặng vài giây, tôi ngẫm nghĩ chắc
có lẽ anh cũng muốn nghe đôi điều về đạo mà tôi đang tin theo.
Tôi chia sẻ với anh: "Còn Đạo mà tôi đang sống theo là Đạo HÍT
và THỞ." Anh nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên. Tôi giải thích: "Đạo
mà tôi đang sống là hít vào ơn phước và chia sẻ ơn phước."

HÍT THỞ là bản năng sinh tồn Đấng Tạo Hóa đặt trong tất cả các
loài sinh vật trên hành tinh này, từ thực vật đến động vật đều
hít và thở. Bản chất của thực vật là hấp thụ Carbon và thải ra
Oxy. Bản chất của động vật là hít vào Oxy và thải ra Carbon.
Nhờ định luật hít-thở, nhận-cho, mà hệ thống sinh thái học
trong thiên nhiên được trường tồn tốt đẹp - Sự sống tiếp nhận
sự sống và ban cho sự sống, cái mà các nhà môi sinh học gọi là
"Ecology", vòng tuần hoàn, có nghĩa là có nhận có ban. Đây là
bản tính và cũng là định luật sống. Bất cứ điều gì hễ được gọi
là "ĐỊNH LUẬT" thì là bản tính bất di bất dịch, hễ dời dịch
chỉnh đổi là tạo ra sự bất ổn, bất an. Định Luật Sống, Hít-Thở,
Nhận-Ban nói lên chương trình đã được Đấng Tạo Hóa ước định và
quyết định từ lúc ban đầu. Định Luật này tạo nên nhịp sống hài
hòa tốt đẹp giữa muôn vật, nó bảo đảm được sự trường tồn trong
hệ thống sinh thái.
ĐẠO Chúa Cứu Thế LÀ ĐẠO HÍT-THỞ. Đạo còn hít và thở là đạo còn
sống. Chúng ta biết một người còn sống vì thấy người còn hít
và thở. Chỉ hít vào mà không thở ra cũng chết. Chỉ thở ra mà
không có sinh khí để hít vào cũng chết. Đối với niềm tin cũng
vậy, nếu chỉ hít vào mà không chịu thở ra niềm tin sẽ chết;
chỉ thở ra mà không hít vào cũng chết. Dấu hiệu để nhận biết
một niềm tin còn sống động khi niềm tin đó còn hít và thở.
Nhận và Ban, Kính CHÚA và Yêu Người - Thập Tự Giá cũng là biểu
tượng của điều chúng ta đang nói ở đây. Thanh "đứng" biểu hiện
cho sự tâm giao mật thiết với Chúa, và thanh "ngang" là biểu
hiện cho sự quan tâm đến tha nhân.
Đời sống đạo của một tín nhân được vui vẻ, bình an, siêu thoát
là tùy thuộc vào cách người hít và thở. Người ta nói tập thể
dục mang đến sức khoẻ cho tinh thần và cơ thể, nhưng thực chất
không phải là thể dục, mà thể dục hay vận động bắt buộc buồng
phổi chúng ta phải điều chỉnh lại cách hít thở - hít thở hài
hòa mang lại sức khoẻ cho cơ thể và sự bình an cho tâm hồn.
HÍT và THỞ là nghệ thuật sống đạo. NHẬN và BAN là nghệ thuật
tâm giao mật thiết với Đấng Tạo Hóa và đối với Tha Nhân. Chỉ
khi sống ĐẠO HÍT-THỞ lúc bấy giờ người tin mới cảm biết ý
nghĩa của từ ngữ "SUNG MÃN" mà Chúa Cứu Thế phán trong Phúc Am
Giăng 10:10, "TA ĐÃ ĐẾN ĐỂ CHIÊN ĐƯỢC SỐNG VÀ SỐNG SUNG MÃN."
Cuộc đời tại thế của Chúa Cứu Thế JÊSUS là một đời sống sung
mãn thật sự. Một cuộc đời được gọi là sung mãn là một đời sống
không thể thiếu được hai yếu tố: Kính Chúa và Yêu Người - tâm
giao mật thiết với Nguồn Sự Sống và quan tâm đến tha nhân.
Cuộc đời tại thế của Chúa JÊSUS thể hiện rất rõ đạo hít thở là
gì, Kính CHÚA và Yêu Người là như thế nào. Chúa JÊSUS thật
đúng là "CHÂN LÝ", là bức chân dung, là tấm gương toàn mỹ để
người tin chiêm nghiệm và noi theo.
HÍT VÀO LÀ SỰ QUAN HỆ GIỮA NGƯỜI VÀ TRỜI. Chúa JÊSUS có một sự
quan hệ sâu sắc và mật thiết với Đức Chúa Cha. Ngài luôn luôn
tìm cầu ý Cha, điều gì Cha thuận ý, đẹp ý, thì Ngài vui lòng
tuân theo. Chúa JÊSUS luôn nghĩ đến cái lợi và vinh danh cho
Đức Chúa Trời. Sự quan hệ giữa tín đồ Cơ Đốc và Thiên Chúa
không phải là sự quan hệ một chiều, không chỉ là cầu xin, cầu
khẩn, khi gặp chuyện cấp bách mới nhớ đến CHÚA. Không chỉ nghĩ
đến cách CHÚA quan tâm cho mình nhưng là chúng ta cần quan tâm
cho CHÚA thế nào.

CHÚA ban cho gia đình chúng tôi có được 3 đứa con, cháu nào
cũng biết cầu nguyện từ lúc còn rất nhỏ. Mỗi lần nghe các cháu
dâng lời cầu nguyện tôi rất cảm động. Vì lời lẽ thật ngây thơ
hồn nhiên, mỗi lần nghe là mỗi lần lòng tôi như được siêu
thoát. Lời cầu nguyện của người lớn thường chải chuốt, có khi
là một bài giảng cho CHÚA nghe nữa. Nhưng lời cầu nguyện của
trẻ thơ thật dễ thương. Cháu Duyân của chúng tôi mỗi khi cầu
nguyện tôi đều cảm động. Mỗi lần gia đình nhóm lại cầu nguyện
trước khi đi ngủ, ngay cả khi mọi người chưa kịp ngồi xuống
điều chỉnh thế ngồi, cháu đã vội giơ tay xung phong cầu nguyện.
Và khi tôi mời cháu dâng lời cầu nguyện thì cô chị liền xìu
xuống, tỏ vẻ mệt mỏi, vì biết Duyân sẽ cầu nguyện rất dài, có
khi dài đến độ cô chị ngủ gục mà lời cầu nguyện mới đến đoạn
giữa. Những lúc như vậy tôi khó có thể tránh cười, tôi nghĩ
CHÚA cũng phải cười khi thấy đứa thì tha thiết với từng lời
cầu nguyện đứa thì ngủ gục lúc nào không hay. Điều mà cháu
Duyân thường cầu nguyện là cầu nguyện cho tất cả những người
thân, vừa bên ngoại và bên nội đã có đến khoảng 30 người, rồi
các anh chị thanh niên, thiếu niên trong Hội Thánh, rồi các
trẻ thơ trên thế giới. Nhưng điều quan trọng nhất, không khi
nào thiếu sót, là luôn luôn cầu nguyện cho CHÚA có sức khoẻ.
Luôn luôn nhớ đến sức khoẻ của CHÚA. Ngay cả khi cháu bị bệnh
sốt nặng, cháu không hề nhớ đến mình cần được chữa lành, mà
luôn nhớ đến Đức Chúa Trời cần có sức khoẻ tốt. Chẳng ai dạy
cháu cầu nguyện như vậy. Ở cái tuổi thơ, chỉ mới 4 tuổi, không
hiểu có phải vì cháu linh cảm công việc điều hành vũ trụ và
hành tinh này quá lớn, hoặc thế nào đó.. Tôi suy nghĩ trong
lòng, làm sao mà Đức Chúa Trời có thể bỏ, có thể không thương
yêu đứa trẻ này được.
CHÚA có vui không? Chắc chắn là vui lắm. Khi nhìn vào cái thế
giời đầy tội lỗi và phức tạm này mỗi ngày, CHÚA chắc đau buồn
và mệt mỏi lắm. Nhưng niềm vui lớn và cũng là sức mạnh giúp
trái tim CHÚA phục hồi chính là những lời cầu nguyện của những
trẻ thơ khắp nơi trên thế giới, chúng luôn nhớ đến sức khoẻ
của Đức Chúa Trời, luôn nhớ đến Ngài cũng có nhu cầu, luôn
biết CHÚA rất cần chúng ta quan tâm.
Nhiều khi tín đồ Cơ Đốc đóng khuôn danh xưng của CHÚA là Đấng
Toàn Năng, đặt Ngài ở một vị trí buộc Ngài phải cứ nhớ đến ta,
ban phước cho ta. Tôi không biết khi chúng ta xưng hoặc gọi
CHÚA là Đấng Toàn Năng, chúng ta hiểu thế nào. Nhưng điều đơn
giản tôi biết trong tất cả các mối quan hệ, đã nói là quan hệ
thì luôn luôn là qua lại và hai chiều. Ngay từ giây phút đầu
tiên trong chuồng chiên máng cỏ cho đến những giờ phút thống
thiết trong Vườn Ghếtsêmanê, và đến những giờ phút đau đớn
trên cây thập tự, chúng ta thấy Ngài rất cần chúng ta có mặt
với Ngài, ở gần Ngài, Ngài luôn cần những người bạn không lìa
xa Ngài.
Cho đến khi nào trong lời cầu nguyện của một tín nhân có những
ngôn ngữ nhớ thương, cầu nguyện cho CHÚA, người tín nhân mới
thật sự là người con đã trưởng thành trong đức tin, mới thật
sự là những người bạn thiết hữu của Ngài. Chúa phán: "Ta không
gọi các con là đầy tớ nữa.. nhưng gọi là bạn hữu.. và bày tỏ
tất cả.." - Ngài không chỉ bày tỏ lời hứa về sự sống vĩnh phúc,
nhưng bày tỏ sự ưu tư lớn nhất của Ngài, là tình thương của
người tín nhân đối với nhau và đối với tha nhân.
Mỗi lần đi công tác xa tôi thường gọi cô con gái lớn vào phòng
tâm sự riêng, và điều tôi thường nói với đứa con trưởng thành
là "Con ở nhà thương các em, chăm sóc các em cho ba mẹ.. hãy
nhớ nha con, ba mẹ cậy nhờ nơi con.. con cố gắng giúp ba mẹ..
ba mẹ sẽ trở về, sẽ mua cho con món quà con yêu thích."
Quan tâm cho CHÚA là hiểu được điều lớn nhất CHÚA đang quan
tâm. Mà điều lớn nhất Ngài luôn ưu tư là những linh hồn đang
lạc mất trong thế gian này. Và đây cũng là yếu tố quan trọng
thứ hai trong ĐẠO HÍT-THỞ. Hít là nhận ơn phước, là quan hệ
mật thiết với CHÚA. Thở là quan tâm đến điều Ngài quan tâm,
chính là tha nhân, chính là điều răn lớn thứ 2: YÊU NGƯỜI.
Trong Phúc Âm LUCA 16, Đức Chúa JÊSUS dùng câu chuyện ngụ ngôn
để dạy chúng ta về ĐẠO HÍT-THỞ, nhận ơn phước và chia sẻ ơn
phước. Chúa phán: Có một người giàu kia thường ăn mặc gấm vóc
lụa là, hằng ngày tiệc tùng xa xỉ. Cũng có một người nghèo khổ
tên Laxarơ (Laxarơ có nghĩa là "Chúa cứu giúp con") nằm trước
cổng nhà người giàu ấy, mình đầy ghẻ lở. Laxarơ mơ ước được
hưởng các mảnh vụn từ bàn người giàu rớt xuống, nhưng chỉ có
chó đến liếm ghẻ trên người. Người nghèo chết, các thiên sứ
đem đặt vào lòng Apbraham. Người giàu cũng chết và được chôn
cất. Bị khổ hình nơi Am Phủ, người giàu ngước mắt lên, thấy
Abraham ở đàng xa, có Laxarơ đang ở trong lòng. Người giàu kêu
xin: "Tổ phụ Abraham ơi, xin thương xót con, sai Laxarơ nhúng
đầu ngón tay vào nước, thấm mát lưỡi con, vì con bị đau đớn
quá trong lửa này!" Nhưng Abraham đáp: "Con ơi, hãy nhớ khi
còn sống con đã hưởng những điều sung sướng; còn Laxarơ phải
chịu những điều khổ cực; nhưng bây giờ Laxarơ được an ủi, còn
con chịu đau đớn. Hơn nữa, giữa chúng ta và con, có một vực
thẳm bao la, hai bên cách biệt hẳn, nên ai muốn từ đây qua đó,
hoặc từ đó qua đây đều không được. Người giàu van xin: "Tổ phụ
ơi, thế thì xin tổ sai Laxarơ đến nhà cha con - vì con còn năm
anh em-để người làm chứng cho họ, kẻo họ cũng bị xuống nơi khổ
hình này!" Nhưng Apraham đáp: "Chúng đã có Môise và các tiên
tri của Chúa, hãy để chúng nghe lời họ!" Người giàu cố nài: "Tổ
phụ ơi, không phải vậy đâu! Nhưng nếu có người chết sống lại
đến nói thì họ mới ăn năn!" Apraham đáp: "Nếu chúng không chịu
nghe Môise và các tiên tri của Chúa, thì dù có người chết sống
lại cũng chẳng thuyết phụ chúng được đâu."
Trọng tâm của câu chuyện này là gì? Nhiều người dùng câu
chuyện này để tranh luận về phương diện thần học, về Âm Phủ và
tình trạng của người chết. Nhưng Trọng tâm của câu chuyện này
là ƯỚC MƠ và KHÁT VỌNG của con người được Đức Chúa Trời tiếp
nhận và ban cho sự sống vĩnh phúc trong ngày cuối cùng. Được
Thượng Đế tiếp nhận trong ngày cuối cùng là niềm hạnh phúc lớn
nhất. Tất cả các đạo giáo, dù là đạo nào, cũng tin rằng có
ngày phán xét cuối cùng, vì vậy, đều dạy người ta ăn hiền ở
lành, làm việc công quả từ thiện, cốt để mong được Đức Chúa
Trời chấp nhận trong ngày phán xét.
Trong câu chuyện này chúng ta thấy giữa người đàn ông giàu có
và nguồn hạnh phúc Thiên Đàng là một vực thẳm vô cùng lớn, lớn
đến nỗi không bên nào có thể vói được bên nào. Nhưng cái vực
thẳm đó không phải do Đức Chúa Trời tạo ra, mà là do tâm tánh
và lối sống ích kỷ tạo thành. Lòng trắc ẩn và thương xót càng
đưa người ta đến gần với Đức Chúa Trời chừng nào, thì ngược
lại, tâm tánh và lối sống ích kỷ hẹp hòi càng tạo khoảng cách
với Đức Chúa Trời chừng đó - vì bổn tính của Đức Chúa Trời là
yêu thương.
Người đàn ông giàu này cố gắng nài nỉ ông tổ Abraham xin gởi
Laxarơ về trần thế đến nhà cha của ông để cảnh báo năm anh em
còn đang sống trên trần thế để họ tu chỉnh lối sống để không
bị rơi vào tình trạng đau đớn như ông. Nhưng gởi bằng cách nào?
Thông điệp như thế nào mới động được trái tim của năm anh em
nhà giàu? Người nghèo này không chỉ ngồi bên cạnh cánh cửa của
người nhà giàu một ngày hay một tháng, nhưng đã nhiều năm, nếu
không nói là cả đời, cho đến khi chết.
Laxarơ nghèo khổ là THÔNG ĐIỆP Đức Chúa Trời mang đến trước
cửa nhà người giàu mỗi ngày, nhưng người giàu không thấy,
không biết, không cảm được. Đối với họ, tiền là mục tiêu, lối
sống trưởng giả sành điệu là thú vui, là cuộc đua không dứt.
Tâm trí họ bị cuốn hút mê man đến độ lạnh cảm với những thương
đau đang diễn ra xung quanh; họ không còn thấy người ghẻ lở,
đáng thương đang quằn quại ngay trước cửa nhà. Có thể kẻ nghèo
đó là người vợ của họ, cũng có thể kẻ nghèo đó là con cái của
họ. Sự cuốn hút của vật chất làm hoa mắt khiến họ không nhận
biết bên cạnh và trước mặt đang có một người rất cần sự quan
tâm.
Người giàu trong câu chuyện này biết rồi đây số phận của năm
người anh em còn lại cũng như mình, nên ông sợ và lo cho các
anh - chắc có lẽ cả năm anh em đều giàu và đều là những con
người ích kỷ dửng dưng trước đau thương của đồng loại. Nhưng
dẫu cho người giàu nài nỉ, thì ông tổ Abraham vẫn khẳng định:
"Dù có người chết sống lại cũng chẳng thuyết phục chúng được
đâu." Người đã từng sống cảnh nghèo khổ nhất đã sống lại chính
là Chúa Cứu Thế JÊSUS - nhưng liệu sự sống lại của JÊSUS Nghèo
Khổ có đủ sức thuyết phục những người giàu thay đổi lối sống
của họ không? Liệu sự sống lại của Ngài có đủ sức thuyết phục
bạn thay đổi lối sống của mình không?
Đức Chúa JÊSUS phán rằng trong ngày tận thế nhân loại sẽ bị
phán xét dựa trên cách sống của họ trong cuộc đời này. Lúc bấy
giờ Chúa JÊSUS phán truyền với những người được cứu: "Hỡi
những người được phước của Cha Ta, hãy đến thừa hưởng vương
quốc đã được sắm sẵn cho các con từ khi sáng tạo thế giới. Vì
khi Ta đói, các con cho Ta ăn; Ta khát, các con cho uống. Khi
Ta là khách lạ, các con đến thăm Ta. Ta trần truồng, các con
mặc cho Ta; Ta đau ốm, các con chăm sóc Ta; Ta bị tù, các con
đến thăm viếng Ta'. Bấy giờ những người công chính thưa: 'Lạy
Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, hay khát
mà cho uống? Có bao giờ chúng con thấy Chúa là khách lạ mà
tiếp đãi, hoặc trần truồng mà mặc cho? Hay có khi nào chúng
con thấy Chúa đau ốm hay bị tù đày mà thăm viếng?' Vua phán
cùng họ: 'Thật, Ta bảo cùng các con, hễ các con làm điều đó
cho một trong những người anh em hèn mọn nhất của Ta, tức là
đã làm cho Ta vậy.'
Người hèn mọn nhất đó là ai?
Là người ở trong tầm mắt của bạn, là người ở ngay trước ngưỡng
cửa của cuộc đời bạn mỗi ngày. Bạn đã được Thiên Chúa ban tặng
sự giàu có trong kiến thức, tài năng, sức khoẻ, tiền của.. Bắt
đầu từ hôm nay, hãy tập thở ra, để tâm hồn bạn được nhẹ nhàn,
như vừa làm xong một bổn phận thiêng liêng.. để lương tâm
không cắn rứt.. để lại tiếp tục hít vào nguồn ơn phước từ
thiên thượng.
MS Ngô Duy
Cường
|